ĐHQG-HCM tổ hợp thành công trong giáo dục đại học



Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

Mô hình các trường đại học truyền thống gắn kết với nhau thành một tổ hợp là mô hình khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, “tổ hợp”này được thành lập với chủ trương xây dựng hai Đại học Quốc gia thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, ngang tầm khu vực, dần đạt trình độ quốc tế là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu hướng phát triển giáo dục đại học của khu vực và thế giới. Sau hơn 23 năm thành lập, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã ngày càng khẳng định sự hiệu quả của mô hình, phát huy sức mạnh hệ thống, đi đầu trong giáo dục đại học.

Hợp tác, phát huy thế mạnh đặc thù

Giai đoạn thập niên 1990, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chứng kiến những chuyển biến thực sự về nhận thức tư duy kinh tế, áp dụng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nền giáo dục đại học nước nhà cũng chuyển mình tương ứng, theo tinh thần đổi mới, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chủ trương “Xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia”. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/CP ngày 10-12-1993 thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội và Nghị định số 16/CP ngày 27-1-1995 thành lập Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Sự ra đời của mô hình Đại học Quốc gia (ĐHQG) là mốc đổi mới sâu sắc trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, lần đầu tiên xuất hiện tổ hợp các trường đại học đa lĩnh vực có quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thực ra, mô hình các trường đại học truyền thống gắn kết với nhau thành một tổ hợp hiện đã có ở nhiều nước trên thế giới. Thí dụ, tại Pháp, Đại học Đông Paris (Université Paris-Est) ở vùng Đông Paris là một trong những consortium các trường đại học, thành lập từ năm 2015 bao gồm bảy cơ sở giáo dục theo Luật Giáo dục đại học và nghiên cứu năm 2013 của Pháp. Hay tại Nhật Bản, có nhóm sáu trường công lập (các trường đại học Chiba, Niigata, Kanazawa, Okayama, Nagasaki và Kumamoto) hợp tác, đào tạo khoảng 70 nghìn sinh viên.Giai đoạn thập niên 1990, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chứng kiến những chuyển biến thực sự về nhận thức tư duy kinh tế, áp dụng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nền giáo dục đại học nước nhà cũng chuyển mình tương ứng, theo tinh thần đổi mới, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chủ trương “Xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia”. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/CP ngày 10-12-1993 thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội và Nghị định số 16/CP ngày 27-1-1995 thành lập Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Sự ra đời của mô hình Đại học Quốc gia (ĐHQG) là mốc đổi mới sâu sắc trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, lần đầu tiên xuất hiện tổ hợp các trường đại học đa lĩnh vực có quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Mô hình đại học như thế này sẽ khai thác được thế mạnh đặc thù, bổ trợ nhau để giải quyết những vấn đề có tính chất liên ngành của xã hội.

Có lộ trình rõ ràng, thống nhất trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học

Đại diện AUN trao giấy chứng nhận cho các chương trình đạt chuẩn kiểm định chất lượng AUN-QA cho Trường đại học Bách khoa - ĐHQG TP Hồ Chí Minh.

Ngày nay, khi quy mô đào tạo đại học ngày càng tăng, yêu cầu về năng lực cũng như các kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp từ các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng cao, sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ngày càng gay gắt, trong “xã hội học tập” hướng tới “xã hội tri thức”, bất cứ trường đại học nào cũng cần quan tâm đến nâng cao chất lượng. Chỉ có chất lượng và hiệu quả mới quyết định sự tồn tại và phát triển của một trường đại học. Ngay từ những năm đầu thành lập, nhằm thực hiện sứ mạng và tầm nhìn của mình, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác bảo đảm chất lượng. Công tác này được thực hiện theo chủ trương và lộ trình thống nhất, xuất phát từ việc đổi mới công nghệ đào tạo, song song với việc xây dựng một hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong vững chắc; sau đó triển khai kiểm định chất lượng theo các bộ tiêu chuẩn quốc tế, trước khi chủ động tham gia xếp hạng đại học.

Nhằm cải tiến triệt để chương trình và đổi mới công nghệ đào tạo, từ năm 2010, ĐHQG TP Hồ Chí Minh là cơ sở giáo dục đầu tiên của Việt Nam tiên phong đổi mới thí điểm phương pháp tiếp cận CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate). Giai đoạn 2013 -2015, CDIO được mở rộng trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ kỹ thuật, khoa học, kinh doanh, quản lý, rồi tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Đến nay, toàn ĐHQG TP Hồ Chí Minh có 62 chương trình đào tạo tham gia áp dụng CDIO thuộc cả sáu trường đại học thành viên. Mô hình CDIO được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, với những bài học kinh nghiệm quý báu đã và đang được phổ biến cho các cơ sở giáo dục trong cả nước. Trên nền tảng đó, hướng đến đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đại học, từng bước giảm dần sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã triển khai đề án “Chương trình đào tạo chất lượng cao với học phí tương ứng”. Tính đến tháng 9-2018, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã phê duyệt triển khai 66 chương trình đào tạo chất lượng cao với học phí tương ứng. Đề án đã thực sự hiệu quả, chất lượng đào tạo bước đầu đạt chuẩn mực quốc tế, đa dạng hóa và tăng nguồn thu đáng kể cho các trường thành viên, tạo đà tiến tới cơ sở đào tạo tự bảo đảm bù đắp phần lớn chi phí đào tạo.

Về công tác khoa học - công nghệ, trên nền tảng thống nhất trục chiến lược chung trong toàn hệ thống, các đơn vị thành viên đã xây dựng kế hoạch phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu dựa trên đặc điểm và thế mạnh của mình. ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã chú trọng đẩy mạnh năm lĩnh vực nghiên cứu: khoa học xã hội và nhân văn; khoa học cơ bản, khoa học tự nhiên; khoa học công nghệ; khoa học kinh tế, quản lý và khoa học sức khỏe. Một số ngành khoa học mũi nhọn đã được khẳng định như Công nghệ sinh học phân tử, Công nghệ tế bào gốc, Điện tử - Tự động hóa, Vi điện tử, Vật liệu composite, Vật liệu Nano, Nam Bộ học…

Đạt nhiều chuẩn kiểm định quốc tế nhất nước

Phòng nghiên cứu công nghệ Nano hiện đại.

Với những nền tảng về đào tạo, NCKH và CSVC, ĐHQG TP Hồ Chí Minh hướng đến mục tiêu lớn nhất, đó là xây dựng văn hóa chất lượng thực sự. ĐHQG TP Hồ Chí Minh là một trong hai cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của cả nước thành lập bộ phận chuyên trách về bảo đảm chất lượng cấp ĐHQG vào năm 1999. Trong công tác tự đánh giá chất lượng, từ năm 2009 đến nay, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã tiến hành đánh giá cấp ĐHQG cho 56 chương trình đào tạo, sáu trường đại học thành viên và một viện nghiên cứu. Trong kiểm định chất lượng, ĐHQG TP Hồ Chí Minh ưu tiên kiểm định cấp chương trình đào tạo, tiếp đó triển khai kiểm định cấp cơ sở giáo dục. Về cấp chương trình đào tạo, đến nay, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã có 45 chương trình đào tạo được công nhận đạt chuẩn chất lượng theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA,9 chương trình đạt chuẩn châu Âu và Hoa Kỳ, số lượng cao nhất cả nước. Ngoài ra, Trường đại học Bách khoa, có hai chương trình đầu tiên của Việt Nam được công nhận đạt chuẩn mức 3 của ABET giai đoạn 2014-2020. Về đánh giá chất lượng cấp cơ sở giáo dục, từ năm 2015-2017, năm trường đại học thành viên thuộc ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã đạt chuẩn kiểm định theo bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Riêng đơn vị thành viên thứ sáu là Trường đại học Bách khoa đã được công nhận đạt chuẩn chất lượng theo bộ tiêu chuẩn HCERES và AUN-QA. Trong bộ tiêu chuẩn AUN-QA, mảng đánh giá chất lượng về hệ thống quản trị, từ cấp ĐHQG TP Hồ Chí Minh đến cấp cơ sở giáo dục, đã rất được AUN-QA chú ý và đánh giá tốt. Cuối năm nay, 2018, Trường đại học Quốc tế cũng sẽ tham gia đánh giá ngoài cấp cơ sở giáo dục bởi AUN-QA.

Về công tác xếp hạng quốc tế, từ năm 2016, ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã chủ động tham gia. Năm 2017, ĐHQG TP Hồ Chí Minh vươn lên xếp hạng 142 châu Á theo bảng xếp hạng QS (Quacquarelli Symonds), tăng năm hạng so với năm 2016. Đặc biệt, năm 2018 đánh dấu bước tiến vượt bậc của ĐHQG TP Hồ Chí Minh khi lần đầu tiên được xếp vào nhóm 701-750 trong bảng xếp hạng đại học thế giới QS World University Rankings. Sự kiện này khẳng định rõ những định hướng chính sách và phương thức triển khai công tác bảo đảm chất lượng tại ĐHQG TP Hồ Chí Minh thời gian qua là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục đại học thế giới. Tất cả các hoạt động triển khai đã thể hiện những nỗ lực không ngừng của ĐHQG TP Hồ Chí Minh nhằm hướng đến xây dựng một hệ thống đại học trong tốp đầu châu Á, nơi hội tụ của khoa học, công nghệ, văn hóa và tri thức Việt Nam.

Một hệ thống giáo dục đại học muốn hiệu quả cần có sự giám sát mang tính kiến tạo của Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam chưa có hệ thống giáo dục đại học mạnh, Nhà nước càng cần hỗ trợ, nâng đỡ hệ thống, phát huy những ưu điểm của hệ thống. Nhà nước cần bảo đảm rằng hệ thống này phục vụ lợi ích công, cung cấp những nền tảng cơ bản của giáo dục đại học mà nếu chỉ dựa vào thị trường thì không thể bảo đảm, thúc đẩy công bằng xã hội đồng thời hỗ trợ các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản phù hợp với nhu cầu của đất nước. Tuyệt đại đa số các hệ thống giáo dục đại học đều có sự phân loại cơ sở giáo dục, dù chính thức hay tự nhiên. Các nhà hoạch định chính sách rõ ràng có những mong đợi đóng góp khác nhau từ các phân đoạn khác nhau của hệ thống phân loại đó. Tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu và cơ cấu của hệ thống giáo dục đại học là nền tảng để thiết lập sự cải tiến hệ thống, đồng thời bảo đảm rằng tầm nhìn này được chia sẻ rộng rãi là rất quan trọng để đạt được kết quả thực tế.

Các ĐHQG cần tiếp tục phát triển dựa trên những thành tựu đã đạt được, thực hiện sứ mạng cao cả của mình, cần sẵn sàng đảm nhận và được đảm nhận, đóng vai trò giải quyết những vấn đề to lớn, trọng yếu của giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học cơ bản, cũng như phục vụ cộng đồng của đất nước.

PGS.TS NGUYỄN HỘI NGHĨA